Thứ Năm, 9 tháng 9, 2021

Giới thiệu cây thuốc quanh ta: CÂY CỎ XƯỚC

 CÂY CỎ XƯỚC 

Bởi nó không phải là cây lương thực thực phẩm cho nên ít người biết nó sinh ra trên quả đất này để làm gì, nhà nông đôi lúc bực mình vì nó mọc trên đất lấn phần cây trồng của họ,…

Theo tôi, tạo hóa không phải là không có lý do để tạo ra một giống cây mà thân của nó trông giống như cái đầu gối của con trâu (nên nó còn có tên Ngưu tất) quả của nó thì người hay động vật đi qua nó sẽ bám dình vào lông hay áo quần (Cỏ xước)
Người Việt Nam mình gọi nó là CÂY CỎ XƯỚC, mấy người làm thuốc ở phương Bắc thì gọi nó là CÂY NGƯU TẤT còn quy ước của thế giới gọi nó là : Achyranthes bidentata Blume
thuộc họ Dền (Amaranthaceae)



Khoa học đã phân tích sơ bộ thấy rằng: Trong rễ của cây cỏ xước có chất Saponin. Thủy phân saponin sẽ có được acid oleanic (C30H48O2) và glucoza, galactoza, rhamnoza. Ngoài ra còn có: inokosteron, ecdysteron & muối kalium.
Cây cỏ xước là cây không có độc, có vị chua, tính bình, vào 2 kinh Can & Thận tác động hành ứ, phá huyết (dùng tươi sống) , có tác dụng bổ gan thận làm mạnh gân cốt (chế biến chín)
Kinh nghiệm dân gian sử dụng cây cỏ xước để làm thuốc: Chữa bệnh viêm khớp, đau nhức mình mẩy, Chữa bịnh cho sản phụ sau sinh máu hôi không sạch, hay phụ nữ kinh nguyệt không đều.
Không nên dùng cho phụ nữ có thai.
Liều dùng từ 3 đến 9 gram (khô)/ ngày (sử dụng dưới dạng thuốc sắc)

Thứ Tư, 8 tháng 9, 2021

Cây thuốc quanh ta CÂY BỒ NGỌT

 

CÂY BỒ NGỌT


Còn gọi là RAU NGÓT, BÙ NGỌT

Tên khoa học là Sauropus androgynus (L). Merr. 

Thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae. 

Là cây rau, có 5,3% là protid, 3,4% glucid, 3,4 % tro mà chủ yếu là calcium (169 mg%), Phospho (64,5 mg%), vitamin C (185 mg%).

Rau ngót (Bồ ngót) chứa nhiều amino acid (acid amin), đặc biệt là có nhiều acid amin không thay thế, kết quả phân tích 100 gram rau ngót có 0,16 g Lyzine, 0,13 g methyonine, 0,05 g Tryptophan, 0,25 g phenylamin, 0,34 g treonin, 0,17g valin, 0,24 g leucin và 0,17 g Isoleucin

Ngoài công dụng để làm rau ăn, kinh nghiệm dân gian dùng rau ngót để chữa một số bệnh như trẻ em tư lưỡi, chữa sót nhau cho sản phụ.

-          Chữa trẻ em tưa lưỡi: Lấy một nắm lá rau ngót tươi, rửa sạch giả nhỏ, vắt lấy nước, dùng bông gạt hoặc vải mùng thấm nước rau ngót, lau lưỡi, lợi, vòm họng của trẻ, bệnh nhẹ thì chỉ khoảng một giờ sau sẽ khỏi, bệnh nặng thì khoảng một ngày sau sẽ lành. (Tôi đoan chắc như vậy)

-          Chữa sót nhau:Lấy 40-50 gram lá rau ngót, rửa sạch, giả nhỏ đổ thêm khoảng 100 ml nước nguội, rót ra, chia 2 lần uống hai lần mỗi lần cách nhau khoảng 10 phút, chậm lắm thì 20-30 phút sau nhau sẽ ra. (Từ thông tin này, suy ra ra ngót không nên dùng để làm rau ăn sống)

Kinh nghiệm dân gian chữa sót nhau còn có cách này: Dùng khoảng 15 trái thầu dầu (còn gọi là đu đủ tía) giả nát, đắp vào gan bàn chân, nhau sẽ ra trong vòng 15 phút, khi nhau ra xong nhớ rửa sạch gan bàn chân)

Rau ngót còn dùng kết hợp để chữa nhiều bệnh khác như hổ trợ điều trị bệnh tiểu đường, chữa bệnh nám da của phụ nữ, giúp làm giảm táo bón, trẻ em đái dầm, hổ trợ điều trị bệnh sỏi thận, tăng cường sinh lý cho nam giới,…

Thứ Hai, 6 tháng 9, 2021

Cây thuốc quanh ta: CÂY CHÓ ĐẺ

                 DIỆP HẠ CHÂU HAY CÒN GỌI LÀ CÂY CHÓ ĐẺ


Sở dĩ người ta gọi nó là CÂY CHÓ ĐẺ là bởi, sau khi đẻ con xong, chó mẹ thường chạy đi tìm cây này để ăn, mục đích và hiệu quả của loại cây này đối với những con chó mẹ sau sinh chó con cũng chẳng thấy ai nghiên cứu, có thể là ăn cây này tốt cho việc tạo sữa cho chó con bú chăng? Vậy thì vấn đề đặt ra đối với những con chó mẹ ở những nơi không có loại cây này sẽ là như thế nào?
Và, đặc biệt, thông tin di truyền này có được loài chó truyền lại thông qua hệ gene hay từ một nguồn khác (làm sao con chó biết được là phải ăn cây này sau đẻ con?)
CÂY CHÓ ĐẺ có tên khoa học là: Phyllanthus urinaria L. Thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)
Ở nước ta, chi Phyllanthus có khoảng 40 loài nhưng đáng chú ý là Phyllanthus urinaria L. (chó đẻ răng cưa, quả có gai) và Phyllanthus niruri L. (thường gọi là cây chó đẻ, quả nhẵn).
Trong cây chó đẻ chứa rất nhiều chất thuộc các nhóm hóa học sau:
1- Flavonoid: kaempferol, quercetin, rutin.
2- Triterpen: stigmasterol, stigmasterol-3-0-ꞵ-glucosid, ꞵ-sitosterol,…
3- Tanin: axit elagic, axit galic…
4- Phenol: methylbrevifolin carboxylat.
5- Axit hữu cơ: axit succinic, axit ferulic, axit dotricontanoic.
6- Lignan: phylanthin.
7- Các thành phần khác: n-octadecan, axit dehydrochebulic methyl ester, triacontanol, phylanthurinol acton.
CÔNG DỤNG:
Các thử nghiệm trên động vật cho thấy chiết xuất của CÂY CHÓ ĐẺ có tác dụng bảo vệ gan. Bên cạnh đó, cây chó đẻ còn có tác dụng kháng khuẩn đối với tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn Coli và diệt nấm.
Theo y học cổ truyền, cây chó đẻ có vị hơi đắng, tính mát, có tác dụng tiêu độc, sát trùng, tiêu viêm, tán ứ, thông huyết mạch, lợi tiểu.
Trong dân gian, cây chó đẻ đã được dùng để chữa viêm họng, mụn nhọt, viêm da, lở ngứa, sản hầu ứ huyết đau bụng, trẻ em tưa lưỡi (giã cây tươi, lọc nước nước rồi bôi lên lưỡi), chàm má (giã nát đắp). Ngoài ra, dược liệu này còn dùng trong điều trị bệnh gan, sốt, rắn rết cắn.
DÙNG CÂY CHÓ ĐẺ CHỮA BỆNH GAN MẬT:
Nếu chỉ dùng đơn lẻ mỗi một cây chó đẻ thì mỗi ngày dùng 40 gram cây chó đẻ khô để sắc uống.
Kinh nghiệm dùng kết hợp :
1- Chó đẻ 20 gr + Màn màn tím 20 gr (khô) sắc uống mỗi ngày, chữa bệnh viêm gan mau lành mau khỏe hơn!
2- Cây chó để 15 gr + Cây màn màn tím 15 gr + cây cà gai leo 15 gr

Không nên dùng quá liều chỉ định!

Thứ Hai, 23 tháng 8, 2021

MỘT CÁCH CHỮA BỆNH HÓC XƯƠNG CỦA NGƯỜI XƯA

 

MỘT CÁCH CHỮA BỆNH HÓC XƯƠNG CỦA NGƯỜI XƯA 

(Tin hay không là quyền của bạn- Câu chuyện này là chuyện có thật 100%) 

Sách xưa hướng dẫn chữa bệnh hóc xương ở cổ có ghi câu quyết: 敕竜蜚竜下, 苛佚化單休Muốn giúp cho người bệnh, thì trên bàn thờ của gia đình, người ta bàn soạn lọ hoa và hương đăng thanh chước, với một cốc nước lạnh đầy, cho người bệnh đứng bên bàn thờ, người giúp chữa bệnh chỉ việc thắp nhang trên bàn thờ và tay cầm ba cây nhang với một tờ giấy tiền đứng dạng chữ lạy ba lạy xong, miệng đọc tay cầm ba cây hương viết câu quyết trên, nếu là nam đọc 7 lần, nữ thì đọc 9 lần, đọc xong lạy ba lạy đốt tờ giấy tiền bỏ vào ly nước cho người bệnh uống thế là xong (cục xương tụt xuống)

Bây giờ nói chuyện này tôi tin có đến hơn 99,9% người không tin là thật, là hết hóc xương, cách tốt nhất bây giờ là đưa đến bệnh viện để bác sĩ lấy ra. Vậy chúng ta thử đặt vấn đề, ngày xưa người ta hóc cục xương to đùng ở cổ, người ta làm cách nào để lấy nó ra hoặc là cho nó tụt xuống?



Thời bao cấp, ở làng tôi có một anh bị hóc cục xương gà to tướng, người ta bày cách muốn cho nó tụt xuống là kiếm người đẻ ngược cào cho nó xuống, anh ấy  nhờ hầu như tất cả những ngược đẻ ngược cào, cào đến tróc da cổ mà cục xương vẫn cứ còn mắc, mỗi ngày nó lại sưng to lên  ăn uống không được.Cuối cùng, nhờ một cụ già trong làng chỉ dẫn cho cha của anh ta làm như cách trên, có điều cha của anh ta không biết viết chữ nho, bí quá, ông phải làm càn, thay vì viết câu quyết bằng chữ nho ông ta viết bằng chữ quốc ngữ.

Người bị hóc xương kể lại rằng, khi ông ấy đọc và viết đến lần thứ năm thì có cảm giác như cái cổ anh ta to ra, cục xương có vẻ trôi xuống, đến lần thứ bảy thì khi bưng cái ly nước uống, cục xương nhẹ nhàng tụt xuống bụng.

Sau khi làm xong người cha nói, khi đọc và viết câu quyết trên đến lần thứ năm ông ấy có cảm giác năng lượng ở cổ của ông có vẻ như mất đi một chút.

Sau này ông ấy qua đời với căn bệnh sưng to ở cổ, nghẹn cổ không ăn được mà mất.

(Tôi không dịch câu quyết ấy ra tiếng quốc ngữ, bởi vì, hiện nay việc lấy cục xương bị hóc trong cổ thủ thuật lấy ra là quá dễ ở tất cả các bệnh viện)

 

Thứ Năm, 15 tháng 7, 2021

Giới thiệu bài thuốc dân gian: NỒI LÁ XÔNG CHỮA BỆNH CẢM CÚM

Trước đây, người dân quê chúng tôi mỗi lần thấy cơ thể nóng sốt nhẹ, ho, cảm,... thì chỉ cần ra vườn "góp" một nồi lá xông, xông vài lần là khỏi bệnh.

Xin ghi lại thành phần cơ bản của nồi lá xông chữa bệnh cảm cúm mà bà con nhà quê chúng tôi đã từng dùng ngày xưa (tất nhiên đến nay vẫn còn nhiều người áp dụng)



 

Giới thiệu cây thuốc quanh ta: CÂY HOANG DẠI NHƯNG CÓ KHẢ NĂNG CHỐNG VIRUS MẠNH

 Nếu bạn thấy mệt mỏi, mất sức chiến đấu, nóng sốt nhẹ thì hãy hái một vài cây, rửa sạch, hơ trên ngọn lửa cho héo, cho vào nồi, đổ ngập nước đun sôi chừng 10-15 phút, lấy nước mà uống, sức khỏe của bạn cải thiện rất nhanh chóng.

Cây mà tôi muốn giới thiệu đó là:
Cây MÀN MÀN HOA TÍM Còn gọi là màn-ri tím, cây màn màn,...
(Cleome chelidonii L.f thuộc họ Màn màn Capparaceae)



Là cây thân thảo, cao hay thấp tùy vùng , có nơi cao từ 40-100 cm
Thân có một ít lông, 5 cạnh,màu xanh nhạt (trong vùng rợp có màu đỏ. Cuống lá dài bằng phiến lá hoặc hơn 1,5 lần phiến lá, Lá có ba lá chét lá giữa dài hơn hai lá hai bên.
Hoa đơn mọc ở nách lá, cuống hoa thường dài hơn lá, hoa có 4 lá đài xanh, hoa có 4 cánh màu tím, hoa có 6 nhị, bao phấn màu lam, bầu hoa có lông, vòi nhụy ngắn, Quả có hình dạng giống quả cải dài.
Màn màn tím thường mọc ở vùng đất thấp, bãi trống, mọc xen trong nhiều loại cây trồng cạn, sống quanh năm, hầu như trên khắp các nước nhiệt đới đều có mọc loại cây hoang dã này.
Các thành phần hoạt chất có chứa trong cây màn màn tím cơ bản gồm: các flavoide có dược tính cao như: alucocleomin, glucocapparin, ...Ngoài ra trong hạt của cây có chứa 0,1% axit viscosic, 0,04% viscosin. Bên cạnh đó còn có các protein, chất béo, vitamin A, đường khử cũng chứa nhiều trong loại cây này.




Kết quả phân tích chi tiết về thành phần hóa học của màn màn trong thời gian gần đây cho thấy thành phần hóa học có trong cây màn màn tím gồm các chất sau: ( Số liệu phân tích của Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam- Mã đề tài: 62-44-01-17)
- Cleomeside A, cleomeside B và cleomeside C.
- Quercitrin
- Isoquercitrin
- Quercetin 3-O-[β-D-glucopyranosyl-(1→2)]-α-Lrhamnopyranoside-7-O-α-L-rhamnopyranoside
- Quercetin-3-O-[2"-O-(6'''-p-coumaroyl)-β-Dglucopyranosyl]-α-L-rhamnopyranoside-7-O-α-L-rhamnopyranoside
- Kaempferol-3-O-(2,4- O-diacetyl-α-L-rhamnopyranoside) (
- Kaempferol-3-O-α-L-rhamnopyranosyl-(1→6)-O-β-Dglucopyranoside (19), glycerol monostearate
- Ethyl α-galactopyranoside
- Adenine
- Emodin-8-O-β-D-glucopyranoside.
Quan sát thực tế trong tự nhiên thấy rằng, tuy là loài cỏ dại nhưng màn màn không phải là thức ăn dành cho động vật nhai lại.
Nguyên nhân động vật nhai lại không thể ăn được cây này là bởi trong cây màn màn có quá nhiều chất có khả năng kháng khuẩn (Vi khuẩn , virus) những chất này sẽ gây hại hệ vi khuẩn phân giải cellulose trong lá sách của động vật nhai lại, sẽ gây đình trệ quá trình tiêu hóa của nhóm động vật này!
Ngoài việc có thể sử dụng cây màn màn hoa tím làm thức ăn, chế biến các món ăn ngon như rau luộc, muối dưa, cây màn màn hoa tím còn được người dân dùng làm thuốc để chữa nhiều bệnh.
Theo đông y, Màn màn có vị cay, ấm, không độc, làm tiêu đờm, hạ khí, tiêu độc, hết chóng mặt, kinh nghiệm lâu đời nhân dân ta đã biết dùng màn màn làm thuốc chữa các bệnh nóng lạnh, đau đầu, ho hen, chữa bệnh ngoài da, bệnh vàng da (do viêm gan), suy thận, lá màn màn dùng chữa rắn cắn (giả nhỏ, đắp lên vết thương do rắn cắn).
Thống kê kinh nghiệm dân gian cho thấy rằng cây màn màn tím đã được người dân dùng để chữa các chứng bệnh như sau:
- Trị bệnh cảm cúm, nhức đầu,viêm mũi, viêm tai
- Trị chấy rận và giun sán.
- Nâng cao thể trạng (người có da xanh xao, mệt mỏi)
- Bệnh đau khớp xương, phong tê thấp bong gân, trầy da
- Chữa bệnh lao hạch, Bệnh viêm thận mãn tính.
- Bệnh xơ gan, viêm gan B mạn tính, gan nhiễm mỡ.
- Chứng nóng trong người, thường xuyên chảy máu cam
- Người bình thường vẫn có thể sử dụng để thanh nhiệt cơ thể, tăng cường sức khỏe.

  CÂY KHỔ QUA RỪNG CHỮA BỆNH GAN Do thời gian qua có rất nhiều người nhầm tưởng cây Khổ qua rừng là cây khổ qua (Mướp đắng) mọc ở trên rừn...