Chiến tranh đã qua đi,hàng vạn con người đã mất vì bom đạn,cái tên Thường Đức bây giờ đã đi vào dĩ vãng, ... Những người sinh ra sau năm 1975 đã và đang sống trên mảnh đất Thường Đức có thể vẫn không biết Thường Đức có nghĩa là gì !
Thứ Năm, 14 tháng 7, 2022
Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2022
TÓM TẮT BÁO CÁO KHOA HỌC
KẾT QUẢ SỬ DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG THUỐC DÂN TỘC ĐỂ PHÒNG-TRỊ BỆNH COVID 19 & HẬU COVID 19
Ngày 23 tháng 1 năm 2020, tức là ngày 29 tết Canh Tý, CDC Thành phố Hồ Chí Minh (HCMC Centers for Disease Control) xác nhận đã có ca nhiễm Covid-19 đầu tiên tại thành phố này, theo dõi tình hình chung về covid 19, theo lời hiệu triệu của chính phủ, cá nhân tôi ngay từ ban đầu đã ý thức được rằng đây là một đại dịch gây hại cho người, có thể nguy hại hơn dịch Sars 2003 chính vì thế mà cá nhân đã có những đầu tư suy nghĩ nghiên cứu để trước hết cứu lấy mình và sau đó nếu có thể thì giúp cho cộng đồng!
NỘI DUNG & PHƯƠNG PHÁP
Là người đam mê thực hành các phương pháp chữa bệnh cổ truyền, trên cơ sở các bài thuốc dân gian hiện đang lưu truyền, kết hợp với các thành quả nghiên cứu khoa học về cây đã có, bản thân tôi đã xúc tiến ngay việc phân tích lại các bài thuốc dân gian có thể chữa các bệnh về cúm có trong nhân dân và từ đó chọn ra một số bài thuốc tối ưu với hy vọng có thể “làm chậm lại’ quá trình lây lan hoặc có thể ngăn chặn được chứng bệnh này.
I-
PHÒNG & CHỮA
BỆNH CÚM DO NEW CORONA VIRUS
A-PHÒNG &CHỮA BỆNH CHO NHỮNG CAS NHẸ:
1-
Nồi lá xông giải cảm:
Đây là phương thuốc truyền thống lưu truyền trong nhân dân, những năm thuộc thời bao cấp và trước đó, người dân thường dùng khi bị chuyển mùa, cảm mạo, sốt do gặp thời tiết biến đổi thất thường.
|
Thành
phần: 1- Màn
màn tím (Cleome
chelidonii L.f ) (cả
cây) 2-
Cây bù xít (Ageratum conyzoides) (cả
cây) 3-
Sả
(Cymbopogon
nardus Rendl ) (cả cây) 4-
Tre (Bambusa
sp) (Lá) 5-
Cam-quít-chanh…(thuộc
chi Citrus) (cành nhỏ, lá, vỏ quả) 6-
Rau lang (
Impomea batatas L.) (cả cây) 7-
Lá lốt
(Piperlolot L.) (cả cây) 8-
Lá ổi (Syzygium
ellipticum K.Schum.& Lauterb) (Cành
nhỏ, lá) 9- Ngũ trảo (Folium Viticis negundo) (cành và lá) Một vài
thứ có thể thiếu, ví dụ như ở miền Tây nam bộ rất khó tìm cây bù
xít thì dùng cây Ngũ trảo, hoặc cây lá Tràm để thay thế |
|
|
Dùng để nấu nước xông hơi giúp loại bỏ
một số vi khuẩn, virus xâm nhiễm vào cơ thể tấn công gây bệnh thông qua hệ hô hấp
(đau đầu , sổ mũi, sốt, ho khan,... ) Ngoài ra, còn giúp tăng cường hoạt động
bài tiết của cơ thể thông qua các tế bào biểu bì, (mồ hôi). ...
2- Sử dụng cây màn màn tím nấu nước để uống:
Dùng 30-40
gram cây màn màn tím (hoặc cây màn màn hoa vàng) sấy khô thêm vào 1
lít nước đun sôi từ 10 đến 15 phút để làm nước uống trong ngày.
(Chi tiết về kinh nghiệm & kết quả
sử dụng trong nhân dân cũng như chi tiết khoa học về cây màn màn hoa
tím chúng tôi sẽ đề cập trong phần phụ lục)
3-
Sử
dụng cây Xuyên tâm liên:
Tên khoa học Andrographis paniculata (Burm.f.) Nees Họ: Ô rô (Acanthaceae). Liều dùng: Bột thân lá cây Xuyên Tâm liên mỗi ngày dùng 4- 6 gam, chia 3 lần
Xuyên
tâm liên (còn gọi là Thần tiễn) được hoạt động như một chất tăng cường miễn
dịch tự nhiên. Ngoài ra, thảo dược này còn được sử dụng để điều trị một số
bệnh sau:
Chữa
cảm mạo, đau đầu,
Ngăn ngừa ho do lạnh, Hỗ trợ điều trị viêm amidan, Lở ngứa, rôm sảy,
mụn nhọt, Chữa tiểu dắt (đái dắt), nước
tiểu vàng do nhiệt lâm, Chữa viêm phế
quản; Hỗ trợ các bệnh về đường ruột, Bảo vệ và điều trị viêm gan, vàng da và các
tổn thương của gan;
Đắp ngoài để điều trị vết rắn cắn và côn trùng cắn.
Bên cạnh đó, xuyên tâm liên có vị đắng, tính hàn, tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết, tiêu thũng chỉ thống. Thường được dùng trị viêm họng, viêm phổi, sưng amidan, viêm đường tiết niệu, viêm âm đạo, khí hư, đau bụng kinh, viêm nhiễm đường ruột, tăng huyết áp, đau nhức cơ thể, tê thấp, mụn nhọt,...
B- ĐIỀU TRỊ CHO NHỮNG CAS BỆNH NẶNG HƠN:
Những trường hợp có nhiều tổn thương phổi, thiếu oxy, chỉ số CT/RT-PCR thấp thì dùng thảo dược đặc hiệu hơn đó là Lan Gấm hoặc Thạch tàm
Lan gấm hay Thạch tàm (thuộc họ Lan Orchidaceae) là loại thảo dược đặc biệt quý hiếm, có tác dụng nhanh trong việc cải thiện tình trạng thiếu Oxy não bởi nó có tác dụng nhuận phế, tư âm. giảm đau (an thần), hạ sốt, ngăn chặn chảy máu làm lành nhanh các vết thương, …
Liều dùng: 8-12 gram khô/ ngày.
C- ĐIỀU TRỊ HẬU
COVID 19:
C1-Mệt mỏi sau
khỏi bệnh:
Đa phần các bệnh nhân sau khi điều trị bệnh Sars CoV2
bằng tây y thường có biểu hiện mệt mói, mất ngủ, choáng đầu. Giải
pháp cơ bản để giải quyết vấn đề này bằng thảo dược là:
Đối với bệnh nhẹ thì dùng cây màn màn tím mỗi
ngày 30-40 gram cây màn màn tím đã phơi hay sấy khô thêm 1 lít nước đun
sôi từ 5 phút để làm nước uống.
Trong trường hợp bệnh nặng hơn thì dùng cây Lan đá hoặc Lan gấm khô, mỗi ngày dùng 8-10 gram khô, khoảng 3-5 ngày là khỏi.
C2- Chữa di chứng
giảm trí nhớ hậu Sars CoV-2:
Quan sát, theo dõi nhiều người bị Sars-CoV-2 sau khi
khỏi bệnh có xu hướng bị giảm trí nhớ nặng, có thể nhận định,
bệnh Sars-CoV-2 có thể đã gây tổn thương ở gan, người bệnh nặng có
biểu hiện giống như bệnh não gan.(Hiện
nay các nhà khoa học cho rằng SARS-CoV-2 đã kích hoạt các triệu chứng
thần kinh gây bệnh sương mù não)
Từ kết quả chữa bệnh não gan (bệnh Hôn mê gan) bằng thảo dược, trên
cơ sở phương thuốc gia truyền chúng tôi đã áp dụng để điều trị hậu
chứng này, qua thực tế theo dõi thấy có kết quả rất khả quan.
Về thành phần phương thuốc như sau:
Tên Việt
Nam/ Scientific name:
·
Tầm gửi/Ramulus
loranthi
·
Nàng
nàng Callicarpa cana L
·
Sung /Ficus
glomerata Roxb.Var.
·
NgáiFicus hispida L
·
Bướm/ Mussaenda pubescens Ait.F
·
Mã đề /Plantago
asiatia L
·
Dâu tằm- Morus
alba
·
Dẻ - Melodorumfruticosum Lour
·
Dừa-Cocos
nucifera L.
·
Cau Areca
catechu L
·
Sả/
Cymbopogon nardus Rendl
·
Tranh - Rhizona
imperata L
·
Vỏ bưởi /chi
Citrus
·
Râu ngô -Stigmata maydis
·
Dứa gai/Pandanus odoratissimus L.f
·
Quả sung (Quả của cây Ficus glomerata
Roxb.Var. )
·
Đinh lăng (Polyscias
fruticosa)
( Những ai quan tâm đến liều lượng từng loại dược thảo trong các bài thuốc này , xin vui lòng liên hệ qua số điện thoại 0905.237.247 hoặc email: traquangdoan@gmail.com)
KẾT QUẢ VÀ ĐỀ NGHỊ
1- Công tác trao thảo dược đến người cần dùng:
Nửa
cuối tháng 7 năm 2021, tình hình dịch bệnh xảy ra khá là nghiêm
trọng, đặc biệt là ở khu vực các tỉnh phía nam, nhiều nhất là tại
thành phố Hồ Chí Minh. Thể theo lời kêu gọi của chính phủ, trên cơ
sở các loại thảo dược đã có sẳn, chúng tôi đã kêu gọi bà con dân
quê góp thêm dược liệu bằng cách thu hái chung quanh nơi đang sống, gom
góp đóng gói hàng trăm “túi thuốc dân sinh” gởi biếu tặng cho đồng
bào miền nam ruột thịt. (Để có được địa chỉ người nhận, chúng tôi
sử dụng mạng xã hội Fabook, để xin địa chỉ) và kết quả chúng tôi
đã trao được gần 500 túi thảo dược, mỗi túi có: 5 gói lá xông+10 gói màn màn tím+ 100
viên bột Xuyên tâm liên.
Thông tin phản hồi từ người nhận rất khả quan.
2- KẾT QUẢ:
Từ thông tin phản hồi của những bệnh nhân ở xa thông qua mạng xã hội, từ theo dõi thực tế những bệnh nhân nhiễm covid trong vùng, với số lượng lớn người sử dụng thuốc, tự hái thuốc theo hướng dẫn cho thấy rằng hầu như không có ai bị thiệt mạng do covid 19 nếu đã có dùng thuốc nam
Các bệnh nhận Sars-CoV-2 được điều trị bằng thảo dược sau khi dùng trong một thời gian ngắn thì hiệu quả cho thấy chỉ số CT/RT-PCR tăng nhanh, bệnh chuyển âm tính sớm.
Song song với việc tặng các túi thuốc
gia đình, bản thân còn nhờ cán bộ y tế địa phương, vận động bà con
nhân dân thu hái những cây thuốc sẳn có (cây Màn màn tím, cây Ngũ
trảo, cây Thuốc giòi,… ) để làm thuốc phòng,chữa bệnh cúm do virus
new-corona-sars 2 gây ra.
3- PHẦN ĐỀ NGHỊ:
Đại
dịch Sars-CoV-2 xảy ra, các nhà khoa học trên thế giới có thể nói đã
không kịp trở tay, để có những nghiên cứu khoa học đáp ứng một cách
kịp thời nhằm phục vụ cho con người là không thể, trong thời gian chờ
đợi kết quả nghiên cứu, nên chăng , chúng ta cần áp dụng phương châm:
“ Ai có súng dùng súng,ai có gươm dùng gươm, không có
súng thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc…” để chống dịch.
Thiết nghĩ,
nếu chúng ta áp dụng theo phương thức đó chắc chắn chúng ta sẽ ít
tốn kém hơn ít thiệt hại hơn trong việc đầu tư chống dịch như trong
thời gian qua
Quảng
Nam là tỉnh được thiên nhiên ưu đãi, khu hệ thực vật nhiệt đới đồng
ruộng và rừng rất đa dạng, là mãng dược liệu phong phú phục vụ cho việc khai thác chữa bệnh.
Là người tâm huyết với nghề, trong thời gian tới, xin ngành đông y tỉnh nhà có những chỉ đạo định hướng kịp thời theo yêu cầu thực tế của xã hội, để những người hành nghề thuốc y học cổ truyền có điều kiện tham gia nhiều hơn nữa trong mặt trận bảo vệ sức khỏe cho nhân dân nhất là khi xu thế xã hội loài người đang có những căn bệnh phức tạp có thể xảy ra bất cứ thời điểm nào!
Ngày 20 tháng 6 năm 2022
Lương y. KS.Trà
Quang Doan
Hội
Đông Y huyện Đại Lộc
Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2022
DẦU CHUỐI
ESTE, THỦY PHÂN
Phát hiện một phương thuốc cổ lưu truyền trong dân gian dùng để chữa bệnh phổi (hen suyễn, Viêm phế quản tắc nghẽn mãn tính,...) rất hay, hôm nay mình đưa vấn đề này để các bạn cùng bàn, nay mai mình sẽ chỉ cho các bạn lý do gì, vì sao mà cái cây các cụ ngày xưa dùng chữa bệnh nó hữu hiệu như thế.
Thứ Bảy, 12 tháng 2, 2022
TƯ LIỆU VỀ THẢO DƯỢC
CÂY BÙ XÍT, CÂY HOA CỨT LỢN
Tên khác : Cây hoa cứt lợn, Cây ngũ sắc,
Tên khoa học: Ageratum conyzoides), Họ Cúc Asteraceae / (Compositae)
Thành phần hóa
học: Chiết xuất hoa và thân
lá sẽ được 0.16% tinh dầu- tỉ trọng tinh dầu 1,109-αß=1o20; Chỉ số
acid 0,9 chỉ số este 11,2. Có thể trong tinh dầu có cumarin
Hoa bù xít có 0,2% tinh dầu-tỉ trọng 0,9357. Trong tinh dầu hoa
lá có Cadinen, Caryophyllen,geratocromen, Demotoxygeratocromen, và một số thành phần khác.
Tinh dầu cây bù xít có màu vàng nhạt đến vàng nghệ, chiết xuất tốt
thì có thể đạt đến 0,2%
Kết quả các thí nghiệm xác định độ độc của cây bù xít với cơ thể
con người cho thấy LD50 là 82g/Kg, Không gây
độc mãn tính với các cơ quan gan và thận, các dược chất trong cây bù xít
có tác dụng chống viêm, chống phù nề và chống dị ứng tốt, phù hợp với việc điều
trị bệnh viêm mũi dị ứng.
Công dụng dược
lý:
Theo Đông y, cây hoa cứt lợn có vị cay, đắng, tính mát; vào 2
kinh Thủ thái âm Phế và Thủ quyết âm Tâm bào. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc,
sát trùng, tiêu thủng, trục ứ. Dùng chữa cảm mạo phát sốt, các chứng bệnh yết hầu
sưng đau, ung thủng, mụn nhọt... Sách Quảng Đông trung dược còn nói dùng để trị
bệnh sa tử cung và u tử cung.
Liều dùng khi uống trong: từ 15 - 30 g khô (hoặc 30 - 60 g tươi), sắc với nước uống hoặc giã vắt lấy nước cốt uống; dùng ngoài không kể liều lượng.
- Chữa phụ nữ bị rong huyết sau khi sinh nở.
- Chữa Viêm xoang,Viêm mũi dị ứng
- Phối hợp với nước Bồ kết để gội đầu có tác dụng sạch gàu, trơn tóc.
Bài thuốc chữa viêm xoang: cây tươi rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước tẩm vào bông, dùng bông nhét vào lỗ mũi. Chữa rong huyết sau khi sinh nở: 30-50g cây tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống trong ngày.
Một số ứng dụng cụ thể:
- Phụ nữ bị rong huyết sau khi sinh nở: Trong dân gian có
kinh nghiệm hái chừng 30 - 50 g cây hoa cứt lợn tươi, đem về rửa sạch, giã
nát, vắt lấy nước cốt và chia 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục trong 3
- 4 ngày (Những cây thuốc và vị thuốc VN).
- Trị các chứng bệnh ở yết hầu (bao gồm cả bạch hầu):
Hái chừng 30 - 60 g lá cây hoa cứt lợn tươi; giã nát vắt lấy nước cốt, hòa
thêm nước và đường phèn vào, chia 3 lần uống trong ngày; cũng có thể lấy
lá phơi khô, tán mịn, dùng làm thuốc bột - ngậm và nuốt dần xuống họng
(Tuyền Châu bản thảo).
- Trị nhọt độc sưng đau: Nhổ cả cây hoa cứt lợn,
rửa sạch, trộn với cơm nguội, thêm chút muối, trộn đều, giã nát, đắp vào
chỗ có bệnh (Tuyền Châu bản thảo).
- Trị "ngư khẩu tiện độc" (chỉ nên tham khảo, vì
cần tìm hiểu thêm): Lá cây hoa cứt lợn tươi 100 - 120 g, trà bính 15 g. Tất
cả đem giã nát, hơ nóng rồi đắp vào chỗ bị bệnh (Phúc Kiến dân gian thảo
dược). "Ngư khẩu tiện độc" là tên chứng bệnh ngoại khoa của Đông
y, do bị bệnh giang mai, hạch bạch huyết ở bẹn sưng tấy (Syphilitic buto),
nếu sưng hạch ở bên trái thì Đông y gọi là "ngư khẩu", còn ở bên
phải gọi là "tiện độc".
- Sưng đau do giãn gân, sái xương: Lấy một nắm cây hoa cứt
lợn khô, cho vào lò đốt cháy và hun khói vào chỗ đau (Phúc Kiến dân gian
thảo dược).
- Cảm mạo phát sốt: Lấy cây hoa cứt lợn
tươi 60g, sắc nước uống (Quảng Tây trung thảo dược)
- Ngoại thương xuất huyết: Lấy một nắm cây hoa cứt
lợn, gĩa nát đắp vào chỗ bị thương (Quảng Tây trung thảo dược).
- Mụn nhọt mưng mủ chưa vỡ: Lấy một nắm cây hoa cứt
lợn tươi, thêm chút đường đỏ, gĩa nát đắp vào chỗ bị thương
- Nga khẩu sang, đinh nhọt sưng đỏ: Lấy 10 - 15 g cành và
lá cây hoa cứt lợn, sắc nước uống "Nga khẩu sang" (miệng con ngỗng),
còn gọi là "tuyết khẩu chứng" (miệng như có tuyết bám vào) là
tên gọi dân gian của chứng bệnh "viêm miệng ap-tơ" (oral
thrush), do nhiễm phải một loại nấm mốc gây nên; thường thấy ở trẻ nhỏ suy
dinh dưỡng, tiêu chảy mạn tính, dùng kháng sinh và hormone tuyến thượng thận
dài ngày.
Chứng trạng: niêm mạc miệng phát đỏ, xuất hiện những nốt trắng
hay màng trắng, bệnh kéo dài sẽ lan tới lưỡi, lợi, vòm họng trên, những mảng trắng
rất khó lau sạch; bệnh kéo dài có thể gây nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu hóa...
- Sốt rét, cảm mạo: Lấy 15 - 20 g cành và
lá cây hoa cứt lợn khô, sắc với nước, chia 2 lần uống trong ngày
- Phong thấp đau nhức, gãy xương (sau khi đã cố định lại):
Lấy một nắm cây hoa cứt lợn tươi, giã nát, đắp vào chỗ đau
Thứ Sáu, 28 tháng 1, 2022
Tư liệu về thảo dược
CÂY THUỐC HỌ MÃNG CẦU (Annonaceae)
Nguồn
tài nguyên cây thuốc trong họ Na khá phong phú, bước đầu đã xác định được 52
loài và thứ (trong tổng số 207 loài và thứ), thuộc 17 chi. Các loài cây thuốc
được sử dụng chữa nhiều nhóm bệnh khác nhau đó là: tiêu hóa, bệnh về xương, bồi
bổ sức khỏe, bệnh ngoài da, bệnh về phụ nữ, bệnh về thời tiết, bệnh dạ dày, hô
hấp, bệnh về thận, gan, bệnh về mắt, bệnh về đường sinh dục, bệnh về trẻ em,
thần kinh, động vật cắn, và bệnh tim. Các bộ phận được sử dụng làm thuốc gồm
có, rễ, lá, thân, cành, vỏ, hoa và hạt.
Đặc điểm nhận dạng và phân bố các loài cây thuốc trong họ Na
Dủ dẻ trâu (Melodorum fruticosum Lour.)
Cây cao 3 m; nhánh non không lông. Lá có phiến thon hay thon dài, hơi mỏng, lúc khô có màu ô liu xám hoặc vàng nâu; gân mịn, 11 cặp. Hoa đơn độc ở nách lá, cao 1 cm; lá đài rộng; cánh hoa thơm, có lông. Quả dày, có cuống ngắn, chứa 1 - 2 hạt.
Sinh thái và phân bố: Ở nước ta, cây mọc ở rừng rậm núi cao Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hoà, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai. Còn có ở Lào, Campuchia, Thái Lan.
Thâu lĩnh sần (Alphonsea boniana Fin.
et Gagnep.)
Bụi nhỏ, cao 2 m. Lá hình bầu dục
thuôn, cỡ 7 - 8 × 3 cm, gân bên 7 - 9 đôi. Hoa mọc đơn độc. Cánh hoa hình
trứng, mặt ngoài hơi có lông. Nhị 15 - 20. Lá noãn 1 - 2. Noãn 12 - 15 xếp thành
2 hàng. Phân quả hình thuôn có mỏ, vỏ quả sần sùi.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 5 - 7, có quả tháng 7 - 8. Mọc rải rác trong rừng thứ sinh, ở độ cao 300
- 500 m. Phân bố ở Lào Cai, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Trị. Còn có ở Trung Quốc.
Quả đầu ngỗng (Anaxagorea luzonensis
A. Gray)
Cây bụi, cao 1 - 2 m. Lá hình mác,
cỡ 8(12) - 15(17) × 3(4) - 5(7), chóp lá thành mũi ngắn, gốc hình nêm. Hoa mọc
đơn độc hay thành từng cặp ở ngoài nách lá. Cánh hoa màu trắng. Nhị nhiều. Lá
noãn 2 - 5. Noãn 2. Phân quả hình trứng ngược.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 3 - 6, có quả tháng 8 - 10. Mọc dưới tán rừng nguyên sinh, nơi ẩm, độ cao
100 - 300 m. Có ở Quảng Bình, Quảng Trị, Khánh Hòa, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng
Tàu. Còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Xri Lanka, Inđônêxia
và Philippin.
Nê (Annona glabra L.)
Gỗ nhỏ, thường cao 2 - 2,5 m. Lá
hình bầu dục, hình trái xoan hoặc hình thuôn, cỡ 10 - 15 × 5 - 7 cm; gân bên 8
- 9 đôi. Hoa phần lớn mọc đơn độc. Lá đài hình tam giác, cánh hoa màu vàng, những
chiếc ngoài rộng, hình tam giác, có bớt đỏ ở mặt trong, cánh hoa trong thường
nhỏ. Nhị nhiều. Lá noãn nhiều. Quả hình trứng, vỏ nhẵn. Hạt màu nâu đen.
Sinh thái và phân bố: Mùa hoa quả
gần như quanh năm. Mọc dựa nước, bên bờ các kênh rạnh, dọc bờ biển. Mọc rãi rác
từ bờ biển Quảng Ninh đến Quảng Nam (Cù Lao Chàm) và các tỉnh Phía Nam. Nguyên
sản ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ và Châu Phi.
Mãng cầu xiêm (Annona muricata L.)Cây gỗ nhỏ. Lá hình mác hoặc hình trứng ngược, cỡ 12-13 × 5
cm. Hoa phần lớn mọc đơn độc. Cánh hoa trong trường nhỏ, nhưng đôi khi khá lớn
hoặc ngược lại, thiếu hẳn. Quả gần hình cầu hoặc hình trứng với vỏ ngoài có
gai.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa quả
tháng 4 - 7, có quả tháng 5 - 10. Cây phân bố khắp cả nước. Nguyên sản ở Châu
Mỹ.
Bình bát (Annona reticulata L.)
Cây gỗ nhỏ, cao 3 - 7 m. Lá thuôn
hình giáo hay bầu dục, cỡ 12 - 16 × 4 cm, cuống lá 1 cm. Hoa tập trung thành
từng cụm 2 - 10; hoa màu vàng, cánh hoa hẹp. Nhị và lá noãn nhiều. Quả mọng,
hình trứng, khi chín màu vàng hay đỏ.
Sinh thái và phân bố: Mùa hoa quả
tháng 4 - 6. Mọc ở nơi ưa sáng. Nguyên sản ở Châu Mỹ.
Na (Annona squamosa L.)
Cây gỗ nhỏ. Hoa ở ngoài nách lá, đối
diện với lá hoặc ở trên cành già. Lá đài nhỏ. Cánh hoa ngoài hình mác thuôn;
cánh hoa trong rất nhỏ hoặc thiếu hẳn. Nhị dài 2 mm. Lá noãn dài 2 - 5 mm. Quả
hình cầu, vỏ quả ngoài dạng vảy.
Sinh thái và phân bố: Ra hoa tháng 3
- 8. Cây ưa sáng thích ứng với đất phù xa vùng đồng bằng, đất đồi tơi xốp dễ
thoát nước. Phân bố, được trồng khắp nơi và các nước nhiệt đới khác.
Công chúa harman (Artabotrys
harmandii Fin. et Gagnep.)
Bụi trườn hoặc dây leo thân gỗ, lá
hình trứng ngược, cỡ 6 - 8(9) - 2,5 - 3,5 cm. Hoa thường thành từng cặp trên
trục cụm hoa, lá đài hình trứng hoặc tam giác. Nhị nhiều, lá noãn 3 - 6. Phân
quả gần như quả lê, không lông.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 5 - 8, có quả tháng 9 - 11. Mọc rãi rác trong rừng. Phân bố ở Tây Nguyên.
Còn có ở Lào và Campuchia.
Hoa móng rồng (Artabotrys
hexapetalus (L.f.) Bhand.)
Bụi trườn, dài 2 - 4 m. Lá hình mác,
cỡ 8 - 13 × 3 - 4 cm; gân bên 9 - 11 đôi. Cụm hoa thường gồm 2 hoa. Cánh hoa
hình mác, co thắt ở dưới. Nhị nhiều. Lá noãn nhiều. Noãn 2. Phân quả không lông
hình trứng ngược, cỡ 2,5 - 3,5 × 1,2 - 2 cm.
Sinh thái và phân bố: Ra hoa tháng 4
- 8, có quả tháng 7 - 10. Cây ưa sáng. Được trồng nhiều ở Việt Nam. Còn có ở
các nước nhiệt đới Châu Á khác.
Móng rồng nhỏ (Artabotrys
intermedius Hassk.)
Bụi trườn, dài 1 - 2 m. Lá hình mác
hoặc hình thuôn, cỡ 8 - 12(16) × 4 - 5 cm. Cụm hoa thường gồm 2 hoa, cuống hoa
dài 1 - 2 cm. Cánh hoa hình mác thuôn, thắt eo ở gần gốc, phiến rộng hình bản.
Lá noãn trên 20. Noãn 2. Phân quả không lông.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 2 - 4, mang quả tháng 5 - 6. Mọc rải rác dưới tán rừng. Phân bố ở Khánh
Hòa, Ninh Thuận, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang. Còn có ở
Lào, Campuchia và Inđônêxia.
Móng rồng gai (Artabotrys spinosus
Craib)
Bụi trườn, cành thường có gai nhọn.
Lá hình bầu dục, hình thuôn, cỡ 7 - 10 × 3 - 5 cm. Hoa mọc đơn độc ở trên trục
ngắn hình móc câu. Cánh hoa gồm 2 vòng gần giống nhau. Nhị nhiều. Lá noãn 7 -
10. Phân quả hình trứng thuôn trên cuống rất ngắn.
Sinh thái và phân bố: Ra hoa tháng 4
- 6. Mọc rãi rác trong rừng thứ sinh, ven rừng, nơi sáng. Phân bố ở Đà Nẵng,
Quảng Nam. Còn có ở Thái Lan.
Ngọc lan lá rộng (Canaga latifolia
(Hook.f. & Thoms.) Fin. & Gagnep.)
Cây gỗ cao đến 25 m. Nhánh có lông
dày, màu vàng. Lá xoan hình tam giác, gốc hình tim hay phẳng, dài 12 cm, mặt
dưới có lông, cuống lá 1 cm. Hoa 1 - 3 đối diện với lá. Lá noãn hình trứng. Hạt
3, nhẵn.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 5 - 6, mang quả tháng 9 - 10. Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh ở đai
thấp. Phân bố ở Ninh Thuận, Đắc Lắc, Tây Ninh, Đồng Nai. Còn có ở Mianma, Lào,
Campuchia.
Ngọc lan tây (Canaga odorata (Lamk.)
Hook.f. & Thoms.)
Cây gỗ thường cao 5 - 6 m. Lá thuôn
hoặc hình bầu dục, chóp lá thành mũi nhịn dài, gốc lá thường rất lệch. Hoa thơm
ở trên cành ngắn. Cánh hoa hình mác hay hình dải. Nhị nhiều, chỉ nhị ngắn. Lá
noãn 8 - 10. Noãn 9 - 12. Phân quả hình trứng ngược. Hạt có vỏ nhăn nheo.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 7, có quả tháng 8 - 10. Trồng phổ biến ở các công viên và các nơi khác
trong cả nước. Còn có ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Thái Lan, Malayxia,
Inđônêxia, Philippin, Niu Ghinê, Fiji, Ôxtrâylia.
Ngọc lan tây dạng bụi (Canaga
odorata var. fruticosa (Craib) Sincl.)
Khác loài chuẩn là bụi nhỏ, cao 1 -
2 m.
Sinh thái và phân bố: Được trồng ở
Thảo Cầm Viên Sài Gòn, Đồng Tháp (Sa Đéc). Còn có ở Trung Quốc, Campuchia, Thái
Lan.
Huyệt hùng bạc (Cyathostemma
argenteum (Blume) Sincl.)
Bụi trườn, cao 2 - 3 m. Lá dày và
dai, hình trứng ngược, cỡ 6(9) - 12(14) × (2,5)3 - 4(5). Cụm hoa gần đối diện
với lá, 1 - 3 hoa. Cánh hoa màu đỏ sẩm, gần như không lông. Nhị nhiều dài cỡ 2
mm. Lá noãn cỡ 30. Phân quả hình trụ.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 4 - 5, có quả tháng 6 - 7. Mọc rải rác trong rừng thứ sinh. Phân bố ở Hà
Tây, Hòa Bình, Kon Tum. Còn có ở Ấn Độ, Mianma, Malayxia, Inđônêxia.
Ngẵng chày (Dasymaschalon
lomentaceum Fin. & Gagnep.)
Gỗ nhỏ, cao 5 - 10 m. Lá hình mác
hoặc hình thuôn cỡ 10 - 13 × 3 - 3,5 cm, gân bên 8 - 10 đôi. Hoa thường gần ở
đỉnh. Cánh hoa dày, hình mác. Nhị nhiều. Lá noãn 7 - 9. Noãn 4 - 8. Phân quả
nhẵn gần như không cuống, chứa 2 - 5 hạt. Hạt hình cầu, đường kính 5 mm, màu
vàng.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 5 - 7, có quả tháng 7 - 12. Mọc ở ven suối, nơi ẩm. Phân bố ở Khánh Hòa,
Đồng Nai, Long An, Kiên Giang. Còn có ở Lào, Campuchia.
Mao quả đài to (Dasymaschalon
macrocalyx Fin. & Gagnep.)
Cây bụi, cao 4 - 5 m. Lá thuôn hoặc
hình mác ngược, cỡ 7(10) - 14(16) × 3 - 5(6), gân bên 10 - 12 đôi. Hoa mọc ở
nách lá hoặc gần ở đỉnh, cuống dài 2 - 3,5 cm. Cánh hoa biến đổi từ hình trứng
đến hình mác. Nhị nhiều. Lá noãn 10 - 20. Noãn 2 - 3. Phân quả có lông, chứa 1
- 2(3) hạt, chia thành các đốt gần hình cầu, màu vàng nhạt.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 5 - 8, có quả tháng 10 - 12. Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh ở độ cao
dưới 300 m. Phân bố ở Nghệ An, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà
Rịa –Vũng Tàu. Còn có ở Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan.
Chuối chác dẻ (Dasymaschalon
rostratum Merr. & Chun)
Cây gỗ nhỏ, cao 3 - 10 m. Lá thuôn
hoặc hình mác ngược, cỡ 15 - 22 × 4 - 7 cm, gân bên 10 - 14 đôi. Cánh hoa hình
mác thuôn, Nhị nhiều, dài 2 - 3 mm. Lá noãn nhiều. Noãn 2 - 4. Phân quả thường
chứa 1 - 2 hạt, chia thành các đốt hình trứng hay hình cầu, đường kính 6 - 7
mm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 4 - 5, có quả tháng 6 - 8. Mọc trong rừng nguyên sinh, rừng thường xanh
cây lá rộng, ở độ cao 200 - 1300 m. Phân bố ở Lào Cai, lạng Sơn, Quảng Ninh,
Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Còn có ở Trung Quốc,
Lào.
Mao quả trụ (Dasymaschalon
sootopensis Craib)
Cây gỗ nhỏ, cao 4 - 8 m. Lá hình mác
hoặc hình thuôn,m cỡ 9(13) - 17(20) × 3(4) - 5(6), gân bên 9 - 11 đôi. Hoa ở
nách lá, cánh hoa hình mác. Nhị nhiều. Lá noãn 10 - 20. Noãn 2 - 5(7). Phân quả
có lông ngắn, chứa 1 - 3(5) hạt, đốt hình trụ dài 2 cm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 4 - 6, có quả tháng 5 - 7. Mọc rải rác trong rừng thứ sinh. Phân bố ở Kon
Tum. Còn có ở Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc.
Hoa giẻ thơm (Desmos chinensis
Lour.)
Bụi trườn, dài 4 - 6 m. lá hình mác
hoặc gần hình thuôn, kích thước thay đổi dài 7 - 17 cm, rộng 3 - 6 cm, gân bên
8 - 13 căp. Hoa thơm, mọc ngoài nách lá, cánh hoa màu vàng. Lá noãn 20 - 30,
dài gần 3 mm. Phân quả có lông, khi chín màu vàng hay đỏ.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 4 - 7, có quả tháng 6 - 9. Mọc rải rác ở ven rừng, đồi hoang, các làng
bản. Loài phân bố khắp nơi ở trung du và Miền núi trong cả nước. Còn có ở các
nước nhiệt đới Châu Á.
Hoa giẻ lông đen (Desmos
cochinchinensis Lour.)
Cây bụi trườn, nhánh non có lông sét
hay trăng trắng. Lá có phiến bầu dục hay xoan ngược, có lông vàng nằm ở mặt
dưới, cỡ 5 - 8(10) × 2,5 - 4 cm; gân bên 8 - 11 đôi. Hoa ngoài nách lá, vàng
tươi, thơm; cánh hoa dài, có lông; quả có lông, cho ra chùm quả như xâu chuỗi,
có lông nhiều hay ít, khi chín có màu đỏ.
Sinh thái và phân bố: Cây ở chỗ
sáng, trên đất rừng vùng núi, thường gặp ở đồi ven rừng. Ra hoa tháng 5 - 7; có
quả tháng 1. Phân bố ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên -
Huế, Kontum vào các tỉnh Nam Bộ. Còn có ở Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Campuchia,
Malaixia.
Dây chân chim núi (Desmos
cochinchinensis var. fulvescens Ban)
Cây bụi trườn hoặc dây leo thân gỗ,
dài 4 - 10 m. Cành non thường có lông tơ màu vàng nâu. Lá phần lớn hình thuôn
hoặc bầu dục thuôn. Hoa mọc đơn độc, ở ngoài nách lá và so le với lá, cuống hoa
dài 2,5 - 4 cm. Cánh hoa khi tươi màu vàng, không thơm, mỏng, có lông hình mác
dài, hơi không đều nhau. Nhị nhiều. Phân quả 2 - 5 hạt, hình chuỗi hạt, khi
chín màu vàng. Hạt màu vàng nâu, nhẵn và láng.
Sinh thái và phân bố: Cây mọc rãi
rác ở ven rừng, nơi sáng, ra hoa tháng 4 - 7, mang quả 9 - 12. Phân bố ở Thanh
Hóa, Nghệ An, (Pù Mát, Pù Hoạt), Hà Tĩnh (Vũ Quang), Thừa Thiên - Huế (Bạch
Mã), Quảng Nam, Khánh Hòa, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng, Đồng
Nai.
Hoa giẻ cánh to (Desmos pedunculosus
(A. DC.) Ban)
Bụi trườn hoặc dây leo thân gỗ. Lá
hình thuôn, cỡ 10 - 18 × 5 - 6 cm; gân bên 10 - 14 đôi. Hoa mọc đơn độc ở ngoài
nách lá. Cánh hoa non có lông rậm. Lá noãn 20 - 25. Phân quả nhẵn, 2 - 5 hạt,
các đốt hình cầu hoặc hình trứng cỡ 7 × 6 mm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 2 - 3, mang quả tháng 6 - 9. Mọc rải rác trong rừng thứ sinh. Phân bố ở
Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đồng Nai. Còn có ở Ấn Độ, Mianma, Thái Lan
Thau ả mai (Desmos pedunculosus var.
tonkinensis Ban)
Dây leo thân gỗ dài 8 - 10 m. Lá
thuôn, có mủi ngắn, cỡ (12)15 - (20)23 × 4(5)-7(9) cm, gân bên 10 - 13 đôi. Hoa
mọc đơn độc ở ngoài nách lá. Cánh hoa mỏng, khi tươi màu vàng, gốc màu tía. Nhị
dài cỡ 1,3 cm. Lá noãn khoảng 20. Noãn 4 - 10. Phân quản nhẵn 2-10 hạt, chia
thành các đốt hình trứng cỡ 8×5 mm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 4 - 6, mang quả tháng 6 - 8. Phân bố ở Lào Cai, yên bái, Lạng Sơn, Hà
Giang, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế. Còn có ở Trung Quốc.
Lãnh công nhiều lá bắc (Fissistigma
bracteolatum Chatt.)
Dây leo thân gỗ dài từ 10 - 20 m. Lá
hình trứng hoặc hình bầu dục thuôn, cỡ 10(15) - 22(25) × 4(6) - 10(12) cm, gân
bên khoảng 16 - 26(30) đôi. Hoa họp thành xim bó 8 - 18 hoa. Cánh hoa ngoài
hình trứng, dài 5 - 6 mm; cánh hoa trong dài cỡ 10 mm. Lá noãn 10 - 16. Noãn 6
- 9. Phân quả hình cầu, đường kính cỡ 1,2 cm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 3 - 4, có quả tháng 6 - 7. Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh, nơi sáng,
độ cao 300 - 1200 m. Phân bố ở Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Thanh Hóa, Hà
Tĩnh. Còn có ở Trung Quốc, Mianma.
Lãnh công xám (Fissistigma
glaucescens (Hance) Merr.)
Bụi trườn dài 2 - 8 m. Lá thuôn cỡ
10 - 18 × 2 - 6 cm, gân bên 10 - 14 đôi. Hoa mọc thành chùy, ít hoa. Cánh hoa
ngoài hình trứng, mặt ngoài có lông nâu đỏ. Nhị dài gần 1 mm. Lá noãn 8 - 10.
Noãn 2. Phân quả hình cầu, đường kính 7 - 8 mm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 10 đến tháng 1 năm sau, có quả tháng 3 - 6. Thường gặp trong rừng thứ
sinh, hoặc ven đường, nơi sáng. Có ở Sơn La, Yên Bái, Quảng Ninh, Hòa Bình,
Thanh Hóa, Quảng Trị, Quảng Nam, Gia Lai. Còn có ở Trung Quốc.
Cách thư oldham (Fissistigma
oldhamii (Hemsl.) Merr.)
Bụi trườn dài 6 - 8 m. Lá phần lớn
hình thuôn, cỡ 7(9) - 12(14) × 2(3)-4(5) cm, gân bên 10 - 12 đôi. Cánh hoa
ngoài hình mác rộng và dài hơn cánh hoa trong. Nhị dài 1,5 mm. Lá noãn khoảng
25 - 60. Noãn 6 - 7. Phân quả hình cầu, đường kính cỡ 1,5 - 2 cm, có lông tơ.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 2 - 5, có quả tháng 4 - 8. Mọc ở ven rừng, nơi sáng. Phân bố ở Lào Cai,
Hà Giang, Cao Bằng, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Kon Tum, Gia Lai, Đồng Nai. Còn có ở
Trung Quốc, Đài Loan, Lào.
Dời dơi (Fissistigma polyanthoides
(DC.) Merr.)Bụi trườn dài 4 - 8 m, hoặc dây leo
thân gỗ dài 10 - 12 m. Lá hình bầu dục hoặc hình thuôn, cỡ 10 - 17 × 4 - 6(8)
cm. Hoa họp thành bó 3-10 hoa trên cuống chung, màu trắng. Cánh hoa ngoài hình
trứng, dài hơn cánh hoa trong. Nhị ngắn dưới 1 mm. Lá noãn 20 - 27. Noãn 4.
Phân quả hình cầu, đường kính cỡ 1 cm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 2 - 4, có quả tháng 4 - 6. Mọc phổ biến ở ven rừng, độ cao từ 100 - 1300
m. Phân bố ở Lào Cai, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Quảng
Ninh, Phú Thọ, Hà Tây, Hòa Bình, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Kon Tum, Đắc
Lắc, Lâm Đồng. Còn có ở Trung Quốc, Lào.
Bổ béo trắng (Fissistigma thorelli
(Pierre ex Fin. & Gagnep.) Merr.)
Dây leo thân gỗ dài 10 - 20 m. Lá
hình bầu dục hoặc hình thuôn, cỡ (13)16 - 25(30) × (5)7 - 10(16) cm, bên khoảng
8 - 22 đôi, song song và tận mép. Hoa hợp thành xim bó, gần như ở đỉnh cành
hoặc ngoài nách lá. Cánh hoa ngoài hình mác dài 2,5 - 3,5cm rộng chừng 6mm;
cánh hoa trong hẹp hơn, cỡ 1,7 - 2 × 0,3 cm. Nhị dài cỡ 1,5 mm. Lá noãn khoảng
10 - 15. Noãn 10 - 16. Phân quả hình trứng hoặc thuôn, 4 - 5 × 2,5 - 3,5 cm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 3 - 7, mang quả tháng 11 - 3 (năm sau). Mọc rãi rác ở rừng nguyên sinh,
nơi ẩm, gần khe suối, vùng núi đất, ở độ cao 500 – 1000 m. Phân bố ở Lào Cai,
Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Kon
Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai. Còn có ở Lào, Campuachia.
Lãnh công bắc (Fissistigma
tonkinensis (Fin. & Gagnep.) Merr.)
Bụi trườn dài 6 - 8 m. Lá hình trứng
thuôn, cỡ 14 – 17 × 5 - 6 cm; gân bên 10 - 15 đôi. Hoa mọc ở đầu ngọn cành,
cánh hoa ngoài hình trứng, cánh hoa trong hẹp và nhọn hơn. Nhị dài 2,5 mm. Lá
noãn nhiều. Noãn 22.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 10 - 12. Mọc rải rác trong rừng thứ sinh. Có ở Quảng Ninh.
Chân kiềng (Goniothalamus chartaceus
P.T.Li)
Gỗ nhỏ, cao 4 - 6 m. Lá hình thuôn
hay hình mác, cỡ 11 - 17(20) × 2 - 3,5(5) cm; gân bên mờ. Cánh hoa ngoài dài 20
- 25 × 5 mm; cánh hoa trong 10 × 4 mm. Nhị dài cỡ 1,5 mm. Noãn 1 - 2. Phân quả
hình trứng, cỡ 708 × 4 - 5 mm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 5 - 6, có quả tháng 7 - 8. Mọc rải rác trong rừng thứ sinh. Phân bố ở
Qủng Ninh, Lạng Sơn.
Giác đế sài gòn (Goniothalamus
gabriacianus (Baill.) Ast)
Cây bụi nhỏ, cao 1-4m. Lá thuôn hình
mác ngược, cỡ (8)13-18(22) x (2,5)3-5(6,5) cm (chiều dài bằng 3 lần chiều
rộng). Hoa thường mọc đơn độc ở nách lá. Cánh hoa dày; những chiếc ngoài hình
mác rộng, cỡ 12-14 x 5-6 cm, cả hai mặt đều có lông; cánh hoa trong hình bầu
dục, dài 7-9 mm. Nhị nhiều. Noãn 1-2. Phân quả nhẵn, hình trái xoan, cỡ 10-12 x
6-7 mm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 12 – 5 năm sau, có quả tháng 6 - 11. Mọc rải rác trong rừng vùng núi đất,
trên độ cao 100 - 800 m. Phân bố ở Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hòa,
Ninh Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, thành
phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang, Nghệ An. Còn có ở Trung Quốc,
Lào, Campuchia.
Giác đế đài to (Goniothalamus
macrocalyx Ban)
Cây gỗ cao 10 - 15 m. Lá hình thuôn
hoặc thuôn hình trứng ngược, cỡ (16)20 - 27(30) × (6)8 - 10 (11) cm, gân bên 13
- 17 đôi. Hoa mọc đơn độc ở nách lá đã rụng hoặc mọc trên cành già. Cánh hoa
ngoài (khi tươi màu vàng nhạt), hình mác, cánh hoa trong hình trứng. Nhị nhiều.
Lá noãn nhiều. Noãn 2. Phân quả, thuôn hoặc hình trụ cong, có mỏ nhọn ở đỉnh.
Sinh thái và phân bố: Mùa hoa tháng
4 - 6, mùa quả chín tháng 7 - 9. Cây tái sinh bằng hạt. Mọc trong rừng lá rộng
thường xanh nơi ẩm, đất có độ mùn sâu, ở độ cao 100 - 900 m. Phân bố ở Hà Tây
(Mỹ Đức, Chùa Hương), Hòa Bình (Đà bắc: Núi Biện, Chợ Bờ), Thanh Hóa (Thạch
Thành).
Bổ béo đen (Goniothalamus
vietnamensis Ban)
Bụi nhỏ, cao 2 - 3 m. Lá thuôn hình
trứng ngược, cỡ 20 - 35(40) × 7 - 9(100) cm, gân bên 10 - 14 cặp. Hoa ở nách
lá, thường mọc đơn độc. Cánh hình mác. Nhị nhiều dài cỡ 1 mm. Lá noãn 15 - 20.
Noãn 1. Phân quả hình trụ, cỡ 3 - 4 × 0,5 cm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 4 - 6, có quả tháng 7 - 10. Mọc rải rác trong rừng thứ sinh. Có ở Cao
Bằng, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hà Tây.
Song môi lông vàng (Miliusa velutina
(Dun.) Hook.f. & Thoms.)
Gỗ cao 10-30 m. Lá rất biến đổi từ
từ tròn, bầu dục hoặc thuôn, cỡ 5 - 25 × 3 - 19 cm. Gân bên 8 - 18 đôi. Hoa mọc
đơn độc hoặc thường họp thành nhóm 2 - 3 chiếc ở nách lá đã rụng. Cánh hoa
ngoài hình mác, cánh hoa trong hình trứng. Nhị nhiều dài trên 1 mm. Lá noãn
nhiều dài 2 - 3 mm. Noãn 1 - 2. Phân quả hình càu hay hình trứng, cỡ 1 - 1,5 ×
0,8 - 1 cm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 3 - 5, có quả tháng 5 - 7. Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh, rừng thứ
sinh ở độ cao dưới 300 m. Có ở Lâm Đồng, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu. Phân bố ở
Ấn Độ, Nê Pan, Thái Lan, Lào, Campuchia.
Tháp hình lông (Orophea hirsuta
King)
Bụi nhỏ, cao 2-4 m. Lá hình trứng
ngược hay hình bầu dục thuôn, cỡ 6-11 x 2,5-4,5 cm; gân bên 7-9 đôi rất mờ. Hoa
thường họp thành từng cặp. Cánh hoa ngoài màu hồng, cánh hoa trong màu trắng
phớt hồng. Nhị 6. Lá noãn 3-6. Phân quả hình cầu.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 4 - 5, có quả tháng 7 - 9. Mọc rải rác trong rừng ở vùg thấp dưới 300 m.
Hà Tĩnh, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đắc Lắc, Đồng Nai. Phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc,
Lào, Malaixia.
Tháp hình nhiều trái (Orophea
polycarpa A. DC.)
Gỗ nhỏ cao 7 - 10 m. Lá hình trứng
mác, ít khi bầu dục, cỡ 8 - 12 × 3 - 4,5 cm, gân bên 5 - 7 đôi. Cụm hoa gồm 2 -
3 hoa. Cánh hoa ngoài hình trứng, cánh hoa trong hình thoi. Nhị 6, dài 1 mm. Lá
noãn 9 - 12 cm. Noãn 2. Phân quả hình cầu, đường kính 10 - 15 mm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 2 - 5, có quả tháng 6 - 8. Mọc rải rác trong rừng thứ sinh. Phân bố ở
Thừa Thiên - Huế, ĐắcLắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu. Còn có ở
Mianma, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia.
Thuốc thượng (Phaeanthus
vietnamensis Ban) Cây bụi hoặc gỗ nhỏ, cao 2 - 10 m.
Lá thuôn hoặc gần hình mác, cỡ 9 – 16 × 3 - 6,5 cm; gân bên 9 - 11 đôi. Hoa mọc
so le với lá, thường thành xim 2 hoa. Nhị nhiều. Lá noãn nhiều. Noãn 1. Phân
quả hình trái xoan, cỡ 12 - 15 × 6 - 7 mm. Khi chín chuyên màu vàng đến màu mận
đỏ.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 5 - 12, có quả tháng 6 - 1 (năm sau). Mọc dưới tán rừng thưa, rừng thứ
sinh dưới 300 m. Phân bố ở Thừa Thiên Huế, Quảng Nam.
Nhọc (Polyalthia cerasoides (Roxb.)
Bedd.)
Cây gỗ cao 5-15 m. Lá hình mác, cỡ
7(9) - 12(14) × 2 - 3(4) cm; gân bên 8-10 đôi. Hoa mọc đơn độc ở nách lá, thơm
mùi chuối chín. Cánh hoa già màu vàng nhạt, hình bầu dục. Nhị nhiều, dài gần 1
mm. Lá noãn nhiều dài 1,5 mm. Noãn 1. Phân quả hình trứng hay hình cầu, đường
kính cỡ 5 - 6 mm, khi chín màu đỏ.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 3 - 5, có quả tháng 5 - 7. Mọc trong rừng nguyên sinh, ven rừng, nơi sáng
ở độ cao dưới 700 m. Phân bố ở Lạng Sơn, Hòa Bình, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà
Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Kon Tum, Đắc Lắc, An Giang.
Còn có ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan.
Nhọc núi đinh (Polyalthia debilis
(Pierre) Fin. & Gagnep.)
Cây gỗ cao 6 - 10 m. Lá gần như
không cuống, thuôn hoặc hình mác, cỡ 7 - 10 × 2,5 - 3,5 cm; gân bên 12 - 13
đôi. Hoa mọc đơn độc đối diện hay ngoài nách lá. Cánh hoa hình thuôn. Nhị hình
thuôn. Lá noãn 6 - 12. Noãn 2. Phân quả hình trái xoan, 2 hạt thắt ở giữa.
Sinh thái và phân bố: Mọc ở rừng
thưa. Mới thấy ở Bà Rịa – Vũng Tàu (núi Đinh).
Chè mỹ (Polyalthia evecta (Pierre)
Fin. & Gagnep.)
Cây bụi, cao 1 - 2 m. Lá hình mác
hay hình bầu dục, cỡ 7(9) - 13 × 2 - 4 cm, gân bên mờ. Hoa mọc đơn độc, ở ngoài
nách lá. Cánh hoa hình mác, ặmt ngoài có lông. Nhị 1 mm. Lá noãn 40 - 60. Noãn
1. Phân quả hình cầu đường kính 5 - 6 mm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 4 - 7, có quả tháng 8 - 12. Mọc rải rác ven rừng. Phân bố ở Đắc Lắc, An
Giang, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tài. Còn có ở Lào, Thái Lan.
Chùm rụm (Polyalthia intermedia
(Pierre) Ban)
Cây bụi, cao khoảng 2 m. Lá thuôn
hình mác, cỡ 7 - 10 × 2 - 3 cm; gân bên mờ khó đếm. Hoa mọc gần như đối diện
với lá. Cánh hoa ngoài hình trứng, cánh hoa trong hình bầu dục. Nhị dài khoảng
1 mm. Lá noãn 10 - 20. Noãn 1. Phân quả hình cầu, đường kính cỡ 5 mm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 4 - 7, mang quả tháng 8 - 10. Mọc rải rác dưới tán rừng. Phân bố ở Khánh
Hòa, Kon Tum. Còn có ở Campuchia.
Ran rừng (Polyalthia nemoralis
A.DC.) Cây bụi, cao 1 - 2 m. Lá thuôn gần
hình mác, cỡ 7(9) - 12(16) × 2(3) - 4(6) cm; gân bên 9 - 12 đôi. Hoa mọc
đơn độc ở ngoài nách lá, gần như đối diện với lá. Cánh hoa màu trắng, mỏng,
hình tam giác. Nhị nhiều. Lá noãn 5 - 6. Noãn 1. Phân quả hình trái xoan, cỡ 10
× 7 mm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 1 - 5, mang quả tháng 8 - 11. Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh, ở vùng
núi đất, độ cao dưới 400 m. Phân bố ở Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Bắc
Giang, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Hà Tây, Nghệ An. Còn có ở Trung Quốc.
Ngấn chày (Polyalthia thorelii
(Pierre) Fin. & Gagnep.)
Gỗ lớn, cao 20 - 30 m. Lá hình
thuôn, cỡ 11(15) - 20(25) × 4(5) - 7(8) cm; gân bên 9 - 12 đôi. Hoa mọc thành
xim, lưỡng phân trên cành già hoặc ở đỉnh. Cánh hoa hình mác, mỏng, 2 mặt đều
có lông. Nhị dài 1 mm. Lá noãn nhiều. Noãn 1. Phân quả hình trứng, cỡ 2 × 1,3
cm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 2 - 6, có quả tháng 7 - 8. Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh ở độ cao
300 - 900 m. Phân bố ở Quảng Ninh, Hà Tây, Hòa Bình, Tây Ninh, TP. Hồ Chí Minh.
Còn có ở Lào.
Bù dẻ lá lớn (Uvaria cordata (Dun.)
Wall. ex Alston) Dây leo thân gỗ. Lá lớn, cỡ 14 - 30
× 10 - 16 cm; gân bên 16 - 30 đôi. Hoa mọc đơn độc hoặc 2 - 3 chiếc. Cánh hoa
hình trái xoan, 2 × 1,3 cm. Nhị nhiều. Lá noãn nhiều. Phân quả thuôn, cỡ 2 - 4
× 1 - 1,5 cm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 4 - 5, có quả tháng 7 - 8. Mọc rải rác trong rừng thứ sinh, vùng thấp
dưới 300 m. Phân bố ở Hà Tây, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, Gia Lai, Lâm Đồng,
Tây Ninh, Đồng Nai, An Giang, bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang. Còn có ở Ấn Độ,
Mianma, Thái Lan, Malaixia, Xri Lanka, Inđônêxia.
Chuối con chồng (Uvaria grandiflora
Roxb. ex Hornem)
Dây leo thân gỗ, dài 8 – 10 m. Cành
non có lông tơ màu vàng nâu. Hoa thường mọc đơn độc, cuống hoa dài 1 – 2 cm, có
2 lá bắc, đài bao kín nụ hoa, lá dài mỏng, hình trái xoan hay hình tròn,
đường kính 2 cm, mặt ngoài có lông ngắn. Cánh hoa rời, màu đỏ tía, hình trái
xoan. Nhị dài 6 – 7 mm. Noãn 20 – 30. Phân quả hình trụ; cuống phân quả dài 1 -
2cm. Hạt màu vàng hơi nâu, nhẵn.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 4 - 6, có quả tháng 8 - 9. Mọc rải rác trong rừng thứ sinh, ở độ cao dưới
300m. Phân bố ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam,
Khánh Hòa, Đồng Nai. Còn có ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Xri Lanka, Malaixia,
Inđônêxia.
Kỳ hương (Uvaria micrantha (A.DC.)
Hook.f. & Thoms.)
Dây leo thân gỗ, dài 15 - 20 m.
Lá hình mác, cỡ 6 - 12 × 2 - 3,5 cm; gân bên không rõ. Hoa mọc đơn độc hoặc họp
thành 2-3 chiếc, đối diện với lá hoặc hiếm khi ở đỉnh cành. Cánh hoa hình trái
xoan, cỡ 3 - 4 × 2 - 3 mm. Nhị dài gần 1 mm. lá noãn nhiều. Noãn 3-5. Phân quả
hình trái xoan có eo, cỡ 7 - 10 × 5 - 6 mm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 1 - 4, có quả tháng 6 - 9. Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh, ở độ cao
dưới 300 m. Phân bố ở Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế, Ninh Thuận, Đồng Nai, Bà
Rịa - Vũng Tàu, tp Hồ Chí Minh, An Giang. Còn có ở Mianma, Lào, Campuchia, Thái
Lan, Malaixia, Ấn Độ.
Bù dẻ trườn (Uvaria microcarpa
Champ. ex Benth.)
Bụi trườn, dài chừng 2 - 4 m, hoặc
dây leo thân gỗ dài 8-20 m. Lá hình trứng ngược hoặc thuôn, cỡ 6(10) - 14(17) ×
4(5) - 7(8) cm; gân bên 10 - 14 đôi. Hoa đơn độc hay từng cặp. Cánh hoa màu đỏ
tía, hình trái xoan. Lá noãn nhiều. Phân quả chín màu đỏ, hình cầu.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 4 - 6, có quả tháng 6 - 8. Mọc ở rừng thứ sinh, lùm bụi và đồi hoang, ở
độ cao dưới 300 m. Mọc khá phổ biến ở Việt Nam. Còn có ở Trung Quốc, Lào.
Bù dẻ hoa đỏ (Uvaria rufa Blume)
Dây leo thân gỗ, dài 10 - 15 m. Lá
thuôn, cỡ 10 - 16 × 3 - 7 cm; gân bên
13 - 26 đôi, nổi rõ ở mặt dưới. Cánh hoa màu đỏ tía, hình thuôn. Lá noãn nhiều.
Noãn 12 - 20. Phân quả thuôn hoặc hình trứng, 1,5 - 4 × 1 - 1,5 cm.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 4 - 8; có quả tháng 6 - 9. Mọc rải rác trong rừng thứ sinh, rừng còi, ở
độ cao dưới 700 m. Phân bố ở Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Đắc Lắc, Đắc
Nông, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu. Còn có ở Trung Quốc, Lào,
Campuchia, Thái Lan, Inđônêxia, Philippin, Niu Ghinê.
Bồ dẻ Việt Nam (Uvaria vietnamensis
C. Meade) Dây leo thân gỗ dài 2 - 5 m. lá hình
trứng hoặc hình thuôn, cỡ 7 - 9(22,5) × 3,5(4) - 7,5 cm; gân 14 - 16 cặp. Phân
quả hình cầu, cỡ 1,2 - 1 cm, cuống phân quả dài 3 - 4,5 cm, có râu dạng gai,
trên râu có lông tơ.
Sinh thái và phân bố: Mọc rải rác
trong rừng, ưa sáng. Phân bố ở Quảng Trị, Quảng Nam. Còn có ở Lào, Thái Lan.
Giềng trắng (Xylopia pierrei Hance)
Cây gỗ cao tới 20 m. Lá hình thuôn
hoặc hình mác, dài (3)6 - 8 (10)cm, cuống lá ngắn. Hoa nhỏ, mọc đơn độc (đôi
khi thành nhóm 2 chiếc). Cánh hoa 6, màu trắng, xếp thành 2 vòng. Những chiếc
của vòng trong nhỏ và ngắn hơn những chiếc vòng ngoài. Nhị nhiều, những chiếc
vòng ngoài bất thụ, những chiếc vòng trong hữu thụ. Lá noãn 3. Noãn 6 - 8 xếp
thành 2 hàng. Phân quả hình trứng. Hạt màu xám, xếp nghiêng so với cuống quả.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 2 – 4; có quả chín tháng 6 - 8. Mọc trong rừng thưa nơi sáng. Có khả năng
tái sinh mạnh ở rừng thứ sinh. Phân bố ở Thanh Hóa, Nghệ An, Kiên Giang, Bà Rịa
- Vũng Tàu, Gia Lai. Còn có ở Campuchia.
Giềng đỏ (Xylopia vielana Pierre)
Cây gỗ cao 8 - 20(25) m. Lá hình bầu
dục hoặc hình trứng, 6 - 8 × 3 - 4 cm. Hoa thường mọc đơn độc (đôi khi họp
thành cặp) ở nách lá. Cánh hoa hình dải, khi tươi màu vàng nhạt. Nhị nhiều. Lá
noãn 6 - 10. Noãn 5 - 6. Phân quả thuôn, cỡ 2 - 3 × 0,5 - 0,6 cm, nhẵn.
Sinh thái và phân bố: Cây ra hoa
tháng 4 - 5, có quả tháng 5 - 6. Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh hoặc rừng
thứ sinh, vùng núi đất, độ cao 100 - 300 m. Phân bố ở Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải
Phòng, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Nông, Tây
Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu. Còn có ở Trung Quốc, Campuchia.
CÂY KHỔ QUA RỪNG CHỮA BỆNH GAN Do thời gian qua có rất nhiều người nhầm tưởng cây Khổ qua rừng là cây khổ qua (Mướp đắng) mọc ở trên rừn...
-
Xem đá banh ở Seagame 26,bất chợt nhớ lại bài Học thuộc lòng khi còn nhỏ. Gần 50 năm qua rồi, có thể có một vài câu chưa đúng nguyên văn : ...
-
Xin giới thiệu với những người bị bệnh khớp ( rheumatic ) bài thuốc nam rất dễ tìm nầy : Hình 1: Cây Mắc Ó 1 - Rễ cây Rì đuối ( ...
-
MÀN MÀN HOA TÍM (Cleome chelidonii L.f thuộc họ Màn màn Capparaceae) A- Mô tả: Cây thân thảo, cao hay thấp tùy vùng , có nơ...
